TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG KHI XẢY RA TAI BIẾN TRONG Y KHOA
Tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh là hậu quả gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh do sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh hoặc rủi ro xảy ra ngoài ý muốn trong khám bệnh, chữa bệnh mặc dù người hành nghề đã tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật. Có thể nói, tai biến trong y khoa là một hậu quả không ai muốn. Vậy, khi xảy ra tai biến trong y khoa thì Bác sỹ, người hành nghề khác hay cơ sở khám, chữa bệnh sẽ chịu trách nhiệm. Việc bồi thường và trách nhiệm của các bên liên quan được thực hiện như thế nào?
Cơ sở pháp lý
– Bộ luật Dân sự 2015;
– Bộ luật hình sự 2015;
– Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009;
– Nghị định 117/2020/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực y tế.
1. Xác định người hành nghề có sai sót hoặc không có sai sót chuyên môn kỹ thuật
Việc xác định người hành nghề có sai sót hay không sai sót trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm bồi thường các bên liên quan. Theo đó, Điều 73 Luật khám bệnh, chữa bệnh quy định, Hội đồng chuyên môn sẽ là bên xác định xem người hành nghề có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám, chữa bệnh dựa theo những căn cứ sau:
“1. Người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này xác định đã có một trong các hành vi sau đây:
a) Vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc và điều trị người bệnh;
b) Vi phạm các quy định chuyên môn kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp;
c) Xâm phạm quyền của người bệnh.
Người hành nghề không có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này xác định thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh nhưng vẫn xảy ra tai biến đối với người bệnh;
b) Trong trường hợp cấp cứu nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu người hành nghề theo quy định của pháp luật mà không thể khắc phục được hoặc bệnh đó chưa có quy định chuyên môn để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh; các trường hợp bất khả kháng khác dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh.”
2. Xác định trách nhiệm do sai sót trong chuyên môn kỹ thuật
Về trách nhiệm bồi thường
Bồi thường khi có sai sót trong hoạt động khám, chữa bệnh được quy định tại Điều 76 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, theo đó:
– Trường hợp xảy ra sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh hoặc trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 73 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã mua bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bệnh theo hợp đồng bảo hiểm đã ký với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.
Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa mua bảo hiểm theo quy định thì phải tự bồi thường thiệt hại cho người bệnh theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy, trách nhiệm bồi thường không chỉ phát sinh đối với trường hợp người hành nghề có sai sót trong chuyên môn kỹ thuật mà còn phát sinh ngay cả khi xác định người hành nghề không có sai sót chuyên môn kỹ thuật. Cụ thể là trong trường hợp cấp cứu nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu người hành nghề theo quy định của pháp luật mà không thể khắc phục được hoặc bệnh đó chưa có quy định chuyên môn để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh; các trường hợp bất khả kháng khác dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh.
Về trách nhiệm pháp lý
Ngoài việc bồi thường theo quy định nêu trên, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật.
Theo đó, tùy theo mức độ, hậu quả, lỗi,… các yếu tố khác của từng trường hợp vi phạm mà người hành nghề bị xử lý hành chính hay chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể:
Người hành nghề và cơ sở khám, chữa bệnh có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định của pháp luật về chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh gây ra tai biến cho người bệnh. Hình phạt bổ sung là: Tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; Đình chỉ hoạt động một phần của cơ sở (đối với các khoa, phòng, trung tâm, đơn vị, bộ phận vi phạm) hoặc tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở (đối với vi phạm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cơ sở) trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng.
Bên cạnh đó, trường hợp làm chết người hoặc gây ra hậu quả nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 về các tội: tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129); tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác (Điều 315).
3. Loại trừ trách nhiệm khi xảy ra tai biến trong khám, chữa bệnh
Điều 34 Luật khám bệnh, chữa bệnh quy định, người hành nghề có quyền được bảo vệ khi xảy ra tai biến đối với người bệnh, cụ thể:
Được pháp luật bảo vệ và không phải chịu trách nhiệm khi thực hiện đúng quy định về chuyên môn kỹ thuật mà vẫn xảy ra tai biến.
Được đề nghị cơ quan, tổ chức, hội nghề nghiệp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra tai biến đối với người bệnh.
Theo đó, khoản 3 Điều 76 Luật khám bệnh, chữa bệnh quy định, nếu người hành nghề đã thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh nhưng vẫn xảy ra tai biến đối với người bệnh thì cả cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề không phải bồi thường thiệt hại.
4. Xác định mức bồi thường thiệt hại do sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh
Điều 77 Luật khám bệnh, chữa bệnh quy định: Việc xác định mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Theo đó, nếu trách nhiệm bồi thường thuộc về doanh nghiệp bảo hiểm mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã mua bảo hiểm thì mức bồi thường xác định theo hợp đồng bảo hiểm đã ký giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó và doanh nghiệp bảo hiểm
Trường hợp trách nhiệm bồi thường thuộc về cơ sở khám, chữa bệnh do chưa mua bảo hiểm theo quy định, thì việc bồi thường được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe gây ra, cụ thể:
* Đối với thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Điều 590 bao gồm các chi phí:
– Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
– Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại);
– Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị (nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại);
– Thiệt hại về tinh thần: Mức bồi thường để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
– Thiệt hại khác do luật quy định.
* Đối với thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo Điều 591 bao gồm các chi phí:
– Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Điều 590
– Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
– Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
– Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại.
Nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
5. Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong khám, chữa bệnh
Về khiếu nại, tố cáo
Người có liên quan có quyền viết đơn tố cáo về hành vi sai sót khi khám bệnh, chữa bệnh của người hành nghề, để gửi đến người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nơi người hành nghề đang làm việc, theo quy định tại Điều 12 Luật tố cáo năm 2018.
Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về khám bệnh, chữa bệnh; việc tố cáo và giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Về giải quyết tranh chấp
Các tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh là tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh giữa các đối tượng gồm: Người bệnh, người đại diện của người bệnh; Người hành nghề; Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Theo đó, tranh chấp của các bên trước tiên sẽ được giải quyết thông qua hình thức tự hòa giải. Trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh là 05 năm, kể từ khi sự việc xảy ra.
