CHO PHÉP NGƯỜI HÀNH NGHỀ ĐƯỢC TIẾP TỤC HÀNH NGHỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH SAU KHI BỊ ĐÌNH CHỈ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
Theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh thì các Bác sỹ, Điều dưỡng, kỹ thuật viên và một số đối tượng khác khi hành nghề phải có chứng chỉ hành nghề do Bộ y tế hoặc Sở y tế cấp. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động hành nghề chuyên môn, người hành nghề có thể bị định chỉ hoạt động theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh. Vậy, khi nào người hành nghề bị đình chỉ hoạt động chuyên môn và thủ tục để xin phép hoạt động lại được quy định như thế nào?
1. Vị trí hành nghề y phải có Chứng chỉ hành nghề
Căn cứ theo Điều 17 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009, Người xin cấp chứng chỉ hành nghề bao gồm:
a) Bác sỹ, y sỹ.
b) Điều dưỡng viên.
c) Hộ sinh viên.
đ) Kỹ thuật viên.
e) Lương y.
Người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.
Tuy nhiên, kể từ ngày 01/01/2024, khi luật khám bệnh chữa bệnh 2024 có hiệu lực thì các chức danh chuyên môn phải có giấy phép hành nghề bao gồm:
a) Bác sỹ;
b) Y sỹ;
c) Điều dưỡng;
d) Hộ sinh;
đ) Kỹ thuật y;
e) Dinh dưỡng lâm sàng;
g) Cấp cứu viên ngoại viện;
h) Tâm lý lâm sàng;
i) Lương y;
k) Người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.
Như vậy, Luật khám bệnh, chữa bệnh 2024 đã bổ sung thêm 3 vị trí phải óc chứng chỉ hành nghề là: Dinh dưỡng lâm sàng; Cấp cứu viên ngoại viện và Tâm lý lâm sàng.
2. Những trường hợp người hành nghề y bị đình chỉ hoạt động chuyên môn
Hiện tại, căn cứ theo Điều 6 thông tư 35/2013/TT-BYT thì người hành nghề bị đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn do sai sót chuyên môn kỹ thuật nếu:
Người hành nghề vi phạm một trong các quy định tại Khoản 1 Điều 73 Luật khám bệnh, chữa bệnh nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng người bệnh đến mức phải bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 29 của Luật khám bệnh, chữa bệnh thì bị đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn.
Mức độ sai sót chuyên môn kỹ thuật của người hành nghề do Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74, Điều 75 Luật khám bệnh, chữa bệnh xác định và là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền quyết định đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của người hành nghề.
Kể từ ngày 01/01/2024, thì căn cứ theo quy định tại Điều 34 Luật Khám bệnh chữa bệnh 2023 về các trường hợp đình chỉ người hành nghề khám chữa bệnh gồm:
người hành nghề bị đình chỉ hành nghề trong các trường hợp sau đây:
– Bị Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 Luật Khám bệnh chữa bệnh 2023 xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải đình chỉ hành nghề nhưng chưa đến mức bị thu hồi giấy phép hành nghề;
– Bị cơ quan có thẩm quyền kết luận có vi phạm đạo đức nghề nghiệp nhưng chưa đến mức phải thu hồi giấy phép hành nghề;
– Không đủ sức khỏe để hành nghề.
3. Thời gian đình chỉ hoạt động chuyên môn
Căn cứ theo Điều 10 Thông tư 35/2013/TT-BYT, Thời gian đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của người hành nghề được quy định như sau:
a) Thời gian đình chỉ hoạt động chuyên môn được ghi trong quyết định đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và khả năng khắc phục của người hành nghề nhưng tối đa không quá 24 tháng.
b) Trường hợp người hành nghề bị đình chỉ hoạt động chuyên môn dưới 24 tháng: nếu quá thời gian đình chỉ mà người hành nghề chưa khắc phục được sai sót chuyên môn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét quyết định gia hạn thời gian đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của người hành nghề nhưng tổng thời gian đình chỉ và thời gian gia hạn đình chỉ tối đa không quá 24 tháng hoặc xem xét quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề theo thủ tục quy định tại Điều 4 Thông tư này.
c) Trường hợp người hành nghề bị đình chỉ hoạt động chuyên môn 24 tháng: nếu đủ thời gian đình chỉ 24 tháng mà người hành nghề không khắc phục được sai sót chuyên môn kỹ thuật thì đối với người hành nghề bị đình chỉ toàn bộ hoạt động chuyên môn phải bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo thủ tục quy định tại Điều 4 Thông tư này; đối với người hành nghề bị đình chỉ một phần hoạt động chuyên môn phải làm thủ tục xin cấp lại chứng chỉ hành nghề để thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn.
Theo Luật khám bệnh, chữa bệnh 2024 thì tùy theo tính chất, mức độ sai sót chuyên môn kỹ thuật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe mà người hành nghề bị đình chỉ hành nghề trong thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng.
4. Thủ tục cho phép được tiếp tục hành nghề sau khi bị đình chỉ hoạt động chuyên môn
Hiện nay, thủ tục cho phép người hành nghề được tiếp tục hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sau khi bị đình chỉ hoạt động chuyên môn được thực hiện theo quy định tại Điều 11 Thông tư 35/2013/TT-BYT như sau:
1. Hồ sơ đề nghị cho phép người hành nghề tiếp tục hoạt động chuyên môn bao gồm:
a) Đơn đề nghị được tiếp tục hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu quy định tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Bản sao có chứng thực chứng chỉ hành nghề;
c) Báo cáo về việc khắc phục sai sót chuyên môn kỹ thuật của người hành nghề;
d) Giấy chứng nhận cập nhật kiến thức y khoa liên tục về chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến sai sót chuyên môn kỹ thuật của người hành nghề trong thời gian bị đình chỉ hoạt động chuyên môn;
đ) Bản sao có chứng thực giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động của Việt Nam cấp đối với người hành nghề là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
2. Thủ tục cho phép người hành nghề tiếp tục hành nghề khám bệnh, chữa bệnh:
a) Người hành nghề gửi 01 bộ hồ sơ quy định tại Khoản 1 Điều này về cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ra quyết định đình chỉ hoạt động chuyên môn;
b) Sau khi nhận được hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền gửi cho người hành nghề Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này;
c) Trong thời gian 10 ngày kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành thẩm định hồ sơ. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản thông báo cho người hành nghề để hoàn chỉnh hồ sơ, trong đó phải nêu cụ thể tài liệu cần bổ sung, nội dung cần sửa đổi. Sau khi nhận được hồ sơ bổ sung, cơ quan nhà nước có thẩm quyền gửi cho người hành nghề Phiếu tiếp nhận hồ sơ bổ sung theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này; trường hợp hồ sơ vẫn chưa hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục yêu cầu người hành nghề bổ sung cho đến khi hoàn thiện hồ sơ;
d) Trong thời gian 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải ra quyết định cho phép người hành nghề tiếp tục hoạt động chuyên môn; nếu không cho phép người hành nghề tiếp tục hoạt động chuyên môn thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
đ) Cơ quan ra quyết định cho phép người hành nghề tiếp tục hoạt động chuyên môn đăng tải thông tin về việc cho phép người hành nghề tiếp tục hoạt động chuyên môn trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đó và có văn bản thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề đó trong trường hợp cơ quan đã ra quyết định cho phép người hành nghề tiếp tục hoạt động chuyên môn không phải là cơ quan đã cấp chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề đó.
